Lên Hương bước vào rạp bằng mùi trầm tưởng tượng: ấm, day dứt, thỉnh thoảng tan ra thành vị ngọt của tiếng cười. Phim chạm vào định kiến quanh nghề mai táng mà vẫn giữ nhịp sống của một khu phố nơi người ta yêu, giận, đùa giữa bóng dáng cái chết. Khi nỗi buồn của người này là kế sinh nhai của người khác, bộ phim chọn lối đi mềm rì rầm hơn là nhát dao triết luận lạnh người.
Khương Ngọc cùng đồng đạo diễn Tấn Hoàng Thông dựng một sân khấu vừa dân gian, vừa bỡn cợt, đặt những phụ nữ nhiều tổn thương giữa trại hòm ế ẩm và nghi thức nằm hòm cầu vận. Khi tiếng cười lắng xuống, dư âm còn lại là tình mẫu tử lầm lũi, như khói hương bay ngược trong căn hẻm nhỏ.

Nhịp điệu chếch choáng giữa duyên hài và gánh nặng bí mật gia đình
Phim khởi đầu nhẹ nhõm, nhịp cắt gọn như những câu đùa nảy hạt trong các màn tung hứng giữa Tâm và bà Mũi. Không khí rộn ràng kéo khán giả bước qua cánh cửa tiệm hòm, nơi ai cũng bận rộn, nói nhanh, làm gấp. Nhưng khi quá khứ trồi lên, nhịp phim đổi số và giãn ra, đôi lần hụt mất đà cảm xúc vốn đang rất nảy.
Chuyển tông có chủ ý, bởi bi kịch cần thời gian thấm, còn tiếng cười sống bằng nhịp. Vấn đề là đoạn giao thoa kéo dài khiến vài cao trào thiếu lực nén. Trước đó, những pha chạy deadline, gom người, vá lỗi lễ nghi đều mượt mà hơn phần lật mở hận thù gia tộc.

Hồng Đào rực sáng; dàn trẻ chắc tay và biết giữ chừng mực
Hồng Đào làm nên một bà Mũi bất cần mà đa đoan, giọng nói mằn mặn, ánh mắt như giấu chìa khóa trong miệng hòm. Chỉ một cú lia máy chậm đã thấy nhịp thở nhân vật đổi sắc, lớp hài cộc lốc phủ lên thương tổn âm ỉ. Tiếc là hồi giải đáp thu hẹp không gian cho bà mở thêm vết nứt nội tâm, làm lỡ một bước leo thang cảm xúc.
Võ Tấn Phát ở vai Tâm tiết chế đáng kể, để đời sống nhỏ nhặt tự nói. Lê Hạ Anh, Quốc Khánh, Thiếu Lan không rơi vào khuôn vai tiện ích; mỗi người có màu riêng, ráp lại thành tổ công xưởng khả tín của một trại hòm chật vật. NSƯT Tuyết Thu lặng lẽ mà vững, giữ nhịp cho mạch tình mẫu tử.

Vật liệu, nghi thức và mùi trầm đi vào khuôn hình lẫn âm thanh
Máy quay mê những mặt gỗ phẳng và ánh kim mờ của đinh hòm, tạo cảm giác có thể sờ chạm, nhắc ta về tính vật chất của cái chết trong mưu sinh. Bảng màu trầm pha neon phố thị khiến không khí vừa linh vừa phàm, ăn khớp với tinh thần đứng giữa hai bờ. Khi nhóm nhân vật chạy việc, nhịp cắt nhanh hòa Foley giấy vàng mã, nắp hòm, băng keo, nghe như dàn nhạc công xưởng.
Âm nhạc nền tiết chế, thiên về trống và mộc khí để bồi đắp cảm giác nghi lễ hơn là kéo nước mắt. Một vài cảnh chọn lặng im để chuyển tông, nhưng vì kịch bản chưa nén đủ, khoảng trống thinh lặng đôi chỗ hóa lặng… rơi. Dẫu vậy, sự tinh kỷ trong thiết kế âm thanh giúp các khoảnh khắc lưỡng lự đạo đức đọng lâu hơn dự tính.

Tình mẫu tử làm sợi chỉ đỏ, kéo phim qua những khúc trũng
Giữa tiếng cười xởi lởi là hai đường dây mẹ con: Tâm và bà Lan, cùng bà Mũi và con gái. Một bên là tình thương lặng lẽ, lối diễn tằng hắng nhẹ của NSƯT Tuyết Thu và sự kiệm lời của Võ Tấn Phát khiến mối quan hệ thấm như mưa bụi. Bên còn lại gai góc, yêu bằng cách đẩy người thương ra xa để họ bớt đau, rồi tự mình gánh phần dở dang.
Khi hai đường dây giao nhau, phim có những khoảnh khắc sáng: ánh nhìn vụt tắt ở cuối hành lang, bàn tay đặt lên nắp hòm như đặt lên lời xin lỗi muộn. Ở đó, phim rời mô tả nghề nghiệp để chạm vào kinh nghiệm lớn lên trong nhà Việt nhiều điều không nói thành lời. Sợi chỉ đỏ này giữ thân phim vững, ngay cả khi lời giải bí mật thiếu độ gai.
Kịch bản dừng trước bậc thang sâu nhất của mâu thuẫn nghề nghiệp
Phim sở hữu phông nền hấp dẫn: nghi lễ nằm hòm cầu vận, tiệm ế ẩm, đội ngũ bán chuyên xoay xở cái chết như công việc hằng ngày. Từ đó, nhiều câu hỏi đạo đức có thể bung nở, từ giá cả, an ủi đến trách nhiệm và buôn bán nỗi đau. Nhưng kịch bản chọn xoáy vào ràng buộc hai gia đình, nơi nút thắt khi bung ra không đủ lực ly tâm cho toàn cấu trúc.

Hậu quả là hồi ba nghiêng về hòa giải ấm áp nhưng an toàn, đẩy xung đột nghề nghiệp và triết lý sống xuống hậu cảnh. Không phải lựa chọn sai, chỉ ít rủi ro nghệ thuật so với chất liệu đang có. Và vì bà Mũi đã được xây nền quá tốt, việc không đi tiếp tới đáy khiến khán giả ra về kèm một tiếng thở tiếc.
Góc nhìn đối chiếu: kỳ vọng đào sâu và lựa chọn đứng về phía nhân vật
Một số nhận xét ngoài rạp khen ý tưởng táo bạo khi đặt nghịch lý nghề mai táng ở trung tâm, đồng thời ghi nhận dàn diễn viên hợp vai. Trải nghiệm trong rạp xác nhận điều đó: hài duyên đúng chỗ, diễn xuất có đời. Điểm nghẽn cũng trùng khớp: khi bí mật mở ra, cảm giác hụt hẫng xuất hiện vì nút thắt không đủ gai.
Điều khác là mức độ tiếc nuối. Có người xem đây là cơ hội bỏ lỡ để đào sâu nghịch lý nỗi buồn và kế sinh nhai, còn tôi thấy phim chủ ý lùi về gần nhân vật hơn là nghề. Sự nhất quán này nối mạch tác giả của Khương Ngọc từ Chị Dâu đến Cục Vàng Của Ngoại, dù phải thừa nhận, một nhát cuốc sâu vào đạo đức nghề sẽ cho Lên Hương hậu vị mạnh hơn.
Điểm số và gợi ý khán giả: tiếng cười biết nghĩ, cái kết hiền tay
Điểm: 7.2/10. Lên Hương là lát cắt đời sống Việt hiếm khi được kể, mang vị hài duyên, diễn xuất chắc tay và thiết kế âm thanh, hình ảnh giàu ý niệm. Hạn chế lớn nằm ở kịch bản chưa dám chọc sâu mâu thuẫn nghề nghiệp, khiến cao trào hụt lực và cái kết hiền.
Ai nên xem: khán giả yêu phim Việt đậm chất đời, thích câu chuyện gia đình có lớp hài mặn; người muốn gặp một Hồng Đào nhiều đất diễn; khán giả trẻ tò mò về nghề mai táng qua lăng kính nhân ái, không rùng rợn. Nếu mong một cú đấm triết luận kiểu Departures, hãy điều chỉnh kỳ vọng; còn nếu cần một buổi tối ấm và giàu dư vị, phim đáp ứng trọn vẹn.

Bình luận (0)